Từ ngày 1/9/2026, Nghị định 287/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, quy định khung tỷ lệ tiền bản quyền đối với việc sử dụng tác phẩm để xuất bản trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định. Mức tiền bản quyền được xác định theo từng thể loại xuất bản phẩm và phương thức sử dụng.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP ngày 17/7/2026 của Chính phủ quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản. Đối với lĩnh vực xuất bản, Điều 17 nghị định quy định cụ thể về tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm, sử dụng tác phẩm để xuất bản.
Theo quy định, tiền bản quyền đối với sáng tạo tác phẩm để xuất bản được chi trả theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước để giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu với tác giả sáng tạo tác phẩm. Việc xác định mức tiền bản quyền căn cứ vào thể loại, tính chất đề tài, chất lượng đặt hàng, phạm vi và đối tượng của chương trình, đề án, cũng như thời hạn và phương thức sử dụng tác phẩm.

Từ ngày 1/9/2026, Nghị định 287/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực. Ảnh: Internet
Khung tỷ lệ tiền bản quyền theo từng thể loại
Đối với việc sử dụng tác phẩm để xuất bản, Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định tiền bản quyền được chi trả theo phương thức tính cụ thể và tỷ lệ phần trăm trong khung tương ứng với từng thể loại.
Cụ thể, văn xuôi có khung tỷ lệ từ 8% đến 17%; sách nhạc từ 10% đến 17%; thơ và kịch bản sân khấu, điện ảnh từ 12% đến 17%.
Đối với sách tranh, sách ảnh, tỷ lệ tiền bản quyền từ 8% đến 12%; truyện tranh từ 4% đến 10%; từ điển, sách tra cứu từ 12% đến 18%.
Sách nghiên cứu lý luận về chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục có tỷ lệ từ 12% đến 18%. Sách khoa học, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, công trình khoa học có tỷ lệ từ 10% đến 17%. Sách phổ biến kiến thức về chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ có tỷ lệ từ 8% đến 12%.
Đối với giáo trình bậc sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, sách phương pháp cho giáo viên và phụ huynh, tỷ lệ được quy định từ 8% đến 16%.
Riêng sách bài học, sách chương trình mục tiêu theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tức sách giáo khoa, có khung tỷ lệ từ 0,1% đến 10%. Sách bài tập, sách vở bài tập, sách tham khảo phổ thông theo chương trình sách giáo khoa có tỷ lệ từ 2% đến 12%.
Bản đồ là thể loại có khung tỷ lệ tiền bản quyền cao nhất, từ 7% đến 23%.
STT | Thể loại | Tỷ lệ phần trăm (%) |
| 1 | Văn xuôi | 8 - 17 |
| 2 | Sách nhạc | 10 - 17 |
| 3 | Thơ | 12 - 17 |
| 4 | Kịch bản sân khấu, điện ảnh | 12 - 17 |
| 5 | Sách tranh, sách ảnh | 8 - 12 |
| 6 | Truyện tranh | 4 - 10 |
| 7 | Từ điển, sách tra cứu | 12 - 18 |
| 8 | Sách nghiên cứu lý luận về chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục | 12 - 18 |
| 9 | Sách khoa học - công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, công trình khoa học | 10 - 17 |
10 | Sách phổ biến kiến thức về chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ | 8 - 12 |
11 | Giáo trình bậc sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, sách phương pháp cho giáo viên và phụ huynh | 8 - 16 |
12 | Sách bài học, sách chương trình mục tiêu (theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo) (sách giáo khoa) | 0,1 - 10 |
13 | Sách bài tập, sách vở bài tập, sách tham khảo phổ thông theo chương trình sách giáo khoa | 2 - 12 |
14 | Bản đồ | |
Cách tính tiền bản quyền đối với sách in và sách điện tử
Nghị định cũng quy định phương thức tính tiền bản quyền khác nhau đối với xuất bản phẩm in và xuất bản phẩm điện tử.
Đối với xuất bản phẩm in, tiền bản quyền được tính theo công thức:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm × Giá thành sản xuất × Số lượng in.
Trong đó, tỷ lệ phần trăm là mức trả tiền bản quyền theo khung quy định đối với từng thể loại. Giá thành sản xuất là tổng chi phí sản xuất xuất bản phẩm in, bao gồm chi phí xuất bản, chi phí in và chi phí phát hành. Số lượng in là số lượng được ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm và được thể hiện trong thông tin trên sách.
Đối với xuất bản phẩm điện tử, tiền bản quyền được tính theo công thức:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm × Giá thành sản xuất × Số năm sử dụng.
Giá thành sản xuất trong trường hợp này không bao gồm chi phí phát hành, đăng tải trên các nền tảng công nghệ, hệ thống cổng thông tin điện tử. Số năm sử dụng là thời hạn sử dụng quyền tác giả theo thời gian triển khai của chương trình, đề án hoặc theo thỏa thuận của các bên được ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm.
Ngoài tiền bản quyền, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn được nhận từ 5 đến 10 bản đối với xuất bản phẩm in. Với xuất bản phẩm điện tử, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được quyền truy cập, sử dụng xuất bản phẩm theo thỏa thuận trên các nền tảng, thiết bị điện tử.
Một số trường hợp được hưởng thêm tiền bản quyền
Nghị định 287/2026/NĐ-CP cũng quy định cơ chế tiền bản quyền khuyến khích đối với một số trường hợp.
Theo đó, đối với xuất bản phẩm thuộc các trường hợp được hưởng tiền bản quyền khuyến khích theo quy định tại các điểm a, b khoản 3 Điều 3 của nghị định, ngoài khoản tiền bản quyền được xác định theo quy định chung, tác giả còn được hưởng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền của xuất bản phẩm đó.
Quy định này áp dụng cho những trường hợp thuộc diện khuyến khích được nghị định xác định, không phải là khoản cộng thêm mặc nhiên đối với mọi tác phẩm xuất bản.

Tại nghị định mới, Mức tiền bản quyền được xác định theo từng thể loại xuất bản phẩm và phương thức sử dụng. Ảnh: Internet
Trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả
Đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm trong hoạt động xuất bản mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan, Điều 18 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định việc trả tiền bản quyền được thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và bên khai thác, sử dụng.
Mức tiền bản quyền trong trường hợp này được tính theo khung và phương thức quy định tại Điều 17 của nghị định.
Đáng chú ý, trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan để phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa đọc và không nhằm mục đích thương mại thì không phải trả tiền bản quyền.
Tuy nhiên, bên sử dụng vẫn phải thông báo bằng văn bản với cơ quan đại diện chủ sở hữu, đồng thời phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
Như vậy, từ ngày 1/9/2026, Nghị định 287/2026/NĐ-CP tạo khung cụ thể để xác định tiền bản quyền đối với tác phẩm được sử dụng trong hoạt động xuất bản thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định. Mức tỷ lệ không phải một con số cố định cho tất cả các loại sách mà được quy định theo từng thể loại, đồng thời tiền bản quyền còn phụ thuộc vào giá thành sản xuất, số lượng in hoặc thời gian sử dụng và các điều kiện được quy định trong hợp đồng, thỏa thuận giữa các bên.
Theo Sở Hữu Trí Tuệ